Sau ý tưởng bỏ Tết cổ truyền của một nhà văn trẻ gây xôn xao dư luận trên mạng xã hội, tiếp đến ý kiến ‘Tết hai trong một”theo đề xuất của Thời báo Kinh tế Sài Gòn (số Tất niên 2017) cho thấy, đất nước ta đã tiến vào khu vực trung tâm của sự hỗn tạp về giá trị. Đó là điều dễ hiểu và dễ xảy ra trong bối cảnh xã hội mà biên độ văn hóa rộng hơn cấu trúc của nó. Ý tưởng bỏ Tết cổ truyền hẳn có lý do nảy sinh. Ý kiến “tết hai trong một”thông qua cuộc ‘trưng cầu ý dân” cũng có cơ sở tồn tại. Song, cả hai ý tưởng và ý kiến trên đều xuất phát từ ý nghĩa ngày nghỉ (chứ không phải ngày lễ) trong không gian, thời gian văn hóa ngày Tết

Chúng ta cằn phải phân biệt giữa ngày nghỉ và ngày lễ. Ngày nghỉ được quy định tại Bộ luật Lao động, còn ngày lễ thuộc phạm trù phong hóa, tín ngưỡng dân gian. Ở nước ta do không có quốc giáo, nên các ngày lễ của tín đồ Cơ đốc, Phật giáo, Nho giáo …đều không được nghỉ theo quy định của pháp luật. Những ngày lễ quốc gia như Quốc khánh (2/9 dl), Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 a6l), ngày Chiến thắng (30/4 dl) … nhưng nghi thưc tổ chức ở cấp độ nhà nước hay tổ chức quan phương, không phổ biến trong cộng đồng. Ngày Quốc tế lao động (1/5 dl), Tết Tây chỉ có nghỉ mà không tổ chức nghi thức. Duy chỉ có Tết cổ , truyền tích hợp cả ngày lễ và ngày nghỉ. Sau một tuần làm việc, người lao động có hai ngày nghỉ cuối tuần. Sau một năm làm việc, người dân, bất kể thành phần nào, có được một kỳ nghỉ dài. Vượt lên trên tính chất nghỉ ngơi thuần túy, Tết gắn liền với cội nguồn lịch sử, văn hóa dân tộc.

Cuộc sống đã tự tìm đến cách thể hiện trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu của đa số người dân. Nó không đơn giản theo tư duy “bỏ” hay “giữ”, cũng không ấu trĩ đến mức tích hợp “hai trong một”. Nhiều người từ lâu đã đi du lịch vào dịp Tết cổ truyền, bỏ lại tập quán văn hóa, đồng thời cũng không có ít người từ phương xa trở về hay đến Việt Nam để hòa mình vào không khí Tết. Cuộc sống vốn đa dạng, đa sắc, nhât là trong bối cảnh một đất nước đa tộc người. Bởi vậy tư duy “nhị nguyên” không thể đại diện cho truyền thống văn hóa.

“Trưng cầu ý dân” là một biện pháp kỹ thuật được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia có nền dân chủ. Từ thực tế cho thấy, trưng cầu dân ý không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng tích cực. Nó giống như “con dao hai lưỡi” mà bất cứ lưỡi nào nhân danh “dân ý” đều có thể gây sát thương, tổn thương cho đa số hay thiểu số. Kết quả một cuộc trưng cầu dân ý thường mở đầu cho sự chia rẽ, thậm chí tan rã, gây tổn hại cho văn hóa đất nước. Chưa kể, trưng cầu dân ý có thể áp dụng cho những quyết sách tác động, ảnh hưởng tới quyền lợi các nhóm hay tổ chức xã hội. Người ta có thể tiến hành trưng cầu dân ý để đổi lấy một chính sách ủng hộ số đông, , bỏ người lãnh đao bị mất tín nhiệm, thậm chí cả thể chế chính trị. Song, không có nước nào trưng cầu dân ý đối với những giá trị tinh thần, mang ý nghĩa thiêng liêng, có tư cách lịch sử như tôn giá, tình yêu, triết học, nghệ thuật… Cách làm đó chẳng khác nào đưa một câu hỏi khó cho con nít trả lời. Vì câu trả lời chỉ có hai đáp án tối giản.

Bên cạnh đó, “trưng cầu dân ý” còn mang đặc tính thể hiện tư duy nhiệm kỳ. Trong khi Tết trường tồn dài lâu hơn bất kỳ cá nhân hay tổ chức chính trị nào. Và khi cuộc sống đã có câu trả lời, bằng tập quán từ bao đời nay, thì tại sao phải trưng cầu dân ý? Không lẽ hàng ngàn năm qua dân ta đón Tết theo thiên ý, vua ý, quan ý chứ không phải dân ý sao? Mặc dù ý tưởng này xuất phát từ mục đích gộp chung hai Tết Tây và Ta lại với nhau nhằm rút ngắn thời gian nghỉ. Song, lịch sử đã chứng minh, giữa Tây và ta còn khoảng trống chưa thể lấp đầy bằng tư duy tích hợp văn hóa. Bởi vậy, bên cạnh Tết Tây vẫn có Tết Ta, song song với nhạc Tây có nhạc Ta, cạnh tiếng Tây còn có tiếng Ta …Nội hàm văn hóa giữa Tây và Ta có nhiều điểm chưa tương đồng; cụ thể là: tín lý, tín ngưỡng, hệ thống thần linh, đối tượng thờ tự, nghi thức hành lễ cu2nh nhiều thói quen gia nhập không gian thi6ng của văn hóa ng2y Tết.

Đứng ở góc độ kinh tế, những lý lẽ đưa ra nhằm bác bỏ Tết vẫn chưa thuyết phục. Bằng chứng cho thấy, kinh tế phát triển gắn bó hữu cơ với đổi mới phương thức sản xuất, quản trị, thay đổi công nghệ, tối ưu hóa quy trình vận hành từ tổ chức, doanh nghiệp đến vùng lãnh thổ, quốc gia. Sau ba cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, bước sang cuộc cách mạng lần thứ tư với trí tuệ nhân tạo, internet … vạn vật, kết nối thực tại thật và ảo …cáng có cơ sở khẳng định, kinh tế đi lên nhờ đổi mới, chứ không bằng sự hy sinh về môi trường tự nhiên hay văn hóa đất nước.

Có quan điểm cho rằng Tết lắm hủ tục nhiêu khê, r7o72m rà, phát sinh tệ nạn… Điều đó có phần đúng. Nhưng như vậy, thứ cần loại bỏ phải là hủ tục chứ không phải là Tết! Giống như môi trường tự nhiên, khi chúng ta trot làm ô nhiễm thì cần huy động nguồn lực khắc phục hậu quả, chứ không lẽ phá bỏ môi trường đi để di cư lên mặt Trăng, sao Hỏa… sinh sống? Hội nhập kinh tế thế giới phải thông qua nhiều con đường khác nhau, chứ không thể bằng cách ăn Tết “hai trong một”. Nhiều người Việt ở hải ngoại, tuy không “cùng một không gian’, “cùng một thời gian” vẫn tìm cơ hội gặp gỡ nhau cùng hưởng bầu không khí Tết nơi quê nhà. Điều đó chứng tỏ hội nhập không có nghĩa là phải làm cho giống người khác, đặc biệt trên những chỉ báo về căn cước văn hóa.

Theo đó, Tết trường tồn từ bao đời nay. Tết có tư cách lịch sử hơn bất kỳ cá nhân hay thể chế kinh tế, chính trị nào. Không thể viện cớ ‘trưng cầu dân ý” để đem Tết ra làm thí nghiệm – tư duy ‘nhị nguyên” đặt sự tồn vong của một dạng thức văn hóa mang tính lịch sử và thuộc tính thiêng vào kết quả phán xét của những người đương thời.

Vào thập niên 80 của thế kỷ trước, khi phong trào bài trừ mê tín dị đoan lên cao, đa số quan chức lúc bấy giờ đều cho rằng tín ngưỡng Tam toa Tứ phủ là mê tín dị đoan, cần dẹp trừ tận gốc. Ấy thế mà cũng với tín ngưỡng này với tên gọi “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu” đã được UNESCO liệt vào di sản văn hóa phi vật thể nhân loại. Nếu so với các di sản văn hóa phi vật thể khác, như Nhã nhạc, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Ca trù, Hát xoan, Dăn ca Quan họ Bắc Ninh, Đờn ca Tài tử Nam Bộ…thì Tết còn quan trọng hơn.

Người ta có thể chưa từng nghe qua những loại hình nghệ thuật trên, có người chưa bao giờ tới đền, phủ dự nghi lễ hầu đồng; nhưng,đã là người Việt Nam, không ai chưa từng đi qua những ngày Tết đong đầy ý nghĩa, thiêng liêng trong cuộc đời hữu hạn của mình. Chúng ta giữ gìn Tết không chỉ cho hiện tại mà còn cho ngàn sau và ngàn xưa gặp gỡ nhau. Tết giống như sợi dây vô hình gắn kết người Việt ở khắp muôn phương.

Tôi từng đặt câu hỏi, nếu sau này chết đi, điều gì nhớ nhất trên trần gian? Câu trả lời đó là nhớ Tết. Tổ tiên quá vãng bao đời của dân tộc này sở dĩ linh thiêng, bất tử trong tâm tưởng bao người chính là vì họ vẫn đi về theo Tết vào mỗi mùa xuân.

Lê Hải Đăng

(VHPG 269)