Tại Ấn Độ, mười Thánh tích (1) của Phật giáo đặc biệt quan trọng, trong đó có bốn Thánh tích ở trong danh sách sau được Phật tử Việt Nam hết sức quan tâm nhất, do bốn Thánh tích này có ý nghĩa quan trọng nhất với cuộc đời Đức Phật và được khá nhiều kinh điển nhắc đến. Bốn Thánh tích này là: “Lâm-tỳ-ni, Bồ-đề đạo tràng, Lộc Uyển, Câu-thi-na”; đó là bốn Thánh tích mà hằng năm có hàng chục ngàn người sang thăm.

Bốn Thánh tích quan trọng nhất hành tinh

a. Vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) là nơi Đức Phật đản sinh, ngày 15 tháng 4 âm lịch gọi là ngày Phật đản, cũng tức là sinh nhật của Phật.

Lumbini nay là quận Rupandehi thuộc nước Nepal, nằm cách biên giới với Ấn Độ khoảng 36km.

b. Bồ-đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) là nơi Đức Phật thành đạo bên bờ sông Ni-liên-thiền (Niranjana). Nay là một thành phố thuộc quận Gaya, bang Bihar, Ấn Độ. Nơi đây được coi là Thánh tích quan trọng nhất, nằm cách thủ phủ Patna của bang Bihar, có tháp Đại Giác cao 52m. Nơi đây còn có Việt Nam Phật Quốc Tự là ngôi chùa của người Việt Nam xây dựng, do thầy Thích Huyền Diệu trụ trì, nằm cách di chỉ Bồ-đề đạo tràng 2km.

c. Lộc Uyển (Sarnath) còn gọi là Lộc Dã (Mrigadava, vườn nai) là nơi Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên bài kinh gọi là Chuyển Pháp Luân cho năm anh em Kiều-trần-như (Kondañña). Vườn Lộc Uyển nằm cách thành phố cổ Varanasi (Ba-la-nại) khoảng 10km. Varanasi trước đây là thủ phủ của bang Uttar Pradesh, nay thủ phủ dời về Lucknow. Tại đây có tháp Dharmarajika là một trong số những ngôi tháp được dựng lên bởi vua Ashoka nay chỉ còn lại nền móng.

d. Câu-thi-na (Kushinagar) là nơi Đức Phật nhập Niết-bàn giữa hai cây sa-la (sa-la song thọ). Câu-thi-na là kinh đô của tiểu quốc Malla, một thị tứ nhỏ và nghèo nàn so với các nước hưng thịnh thời bấy giờ, nhưng Đức Phật lại chọn nơi này làm nơi diệt độ với lý do liên quan đến tiền thân Ngài. Thời xa xưa, Câu-thi-na là kinh đô của Chuyển luân Thánh Vương tên là Thiện Kiến, một trong những tiền thân của Đức Phật, xưa cũng là một kinh đô hưng thịnh phú cường. Và cũng chính nơi đây, Ngài đã xả báo thân đến bảy lần. Ngày nay Kushinagar là một thị trấn nhỏ khoảng 18.000 dân, thuộc quận Kushinagar, bang Uttar Pradesh.

Tại sao phải đến bốn Thánh tích này?

Với điều kiện kinh tế ngày nay, các Phật tử hoàn toàn có thể tích góp tịnh tài, để thực hiện chuyến thăm viếng bốn Thánh tích “Lâm-tỳ-ni, Bồ-đề đạo tràng, Lộc Uyển, Câu-thi-na” này ít nhất là một lần. Để tự mình chiêm nghiệm và thể hiện lòng tôn kính của chúng ta đối với Đức Phật, cầu phước báu nhân duyên cho bản thân mình ở những kiếp vị lai theo lời kinh dạy: “Này Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn? “Đây là chỗ Như Lai đản sanh”, “Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Đẳng Giác”, “Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng”, “Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn”, này Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính” (2).

Không những thể hiện sự tôn kính Đức Phật, mà khi thành tâm chiêm bái tứ Thánh tích chúng ta còn được cảm nhận và tương tác với năng lượng sẵn có nơi Thánh tích, với tâm chí thành chí kính chúng ta có thể cảm ứng được sự hiện hữu nhiệm mầu của Đạo và cũng sẽ tăng thêm lòng tịnh tín, sự khát ngưỡng tăng lên rất nhiều. Theo tài liệu để lại thì người đầu tiên chiêm bái tứ Thánh tích là vua Ashoka vào 218 năm sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, do cảm nhận được năng lượng tâm linh, vua đã phát nguyện thực hiện các thiện nghiệp và trùng hưng Tam bảo: “Trong 39 năm tại ngôi, vua A Dục làm Phật sự là 27 năm như ra lịnh cho khắc tất cả những lời Phật dạy lên trên đá, trụ đá, đá trong núi, bia đá khắp nơi ở Ấn Độ… Đặc biệt trùng tu tứ Phật tích: nơi Phật đản sanh, nơi Phật thành đạo, nơi Phật thuyết pháp đầu tiên, nơi Phật nhập diệt. Ngoài ra còn xây dựng tháp của chư vị Thánh Tăng và nhiều tu viện khác” (3).

Các vị minh quân ngày xưa đã biết tạo ra công đức, phước báu to lớn như thế cũng bởi vì họ thành tâm làm phước để dành vị lai: “Này Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ sẽ đến với niềm suy tư: ‘Đây là chỗ Như Lai đản sanh’, ‘Đây là chỗ Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác’, ‘Đây là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng’, ‘Đây là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn’. Này Ananda, những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà từ trần với tâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú, cảnh giới chư Thiên” (4).

Chưa đạt được địa vị giác ngộ, chắc chắn chúng ta sẽ phải tái sinh trong các cảnh giới do hiện đời tạo tác. Biết được như vậy, thì ai lại không muốn tranh thủ tạo lập phước báu trước khi xả bỏ thân tứ đại này với mong muốn được tái sinh lên cõi trời, cõi người! Phước báu đưa ta tới những cảnh giới tốt đẹp, cõi người cõi trời là do tự mình tạo dựng trong hiện kiếp.

Sau khi qua đời, chỉ còn lại nghiệp và ta, nghiệp tốt thì chúng ta hưởng an vui, nghiệp xấu ác thì chúng ta nhận lấy đau khổ, Chồng vợ, anh em, cha mẹ con cái cũng không thể làm thay, gánh thay mình được.

Tóm lại, sống trong hiện đời, dù đã quy y Tam bảo thọ trì ngũ giới rồi hay chưa, thì chúng ta vẫn nên một lần đến thăm viếng, đảnh lễ nơi bậc Đạo sư của chúng ta thị hiện trên cõi đời, nơi Ngài giác ngộ, nơi Ngài chuyển bánh xe Chánh pháp và nơi Ngài nhập vô thượng đại Niết-bàn. Ngài không chỉ là Thầy của các hàng Phật tử mà còn là bậc siêu tuyệt hơn các vĩ nhân trên trái đất này “trên trời dưới đất, tối thắng hơn hết”.

Lời Phật dạy: “Trên đời này, những cái to lớn, vĩ đại thường chỉ có một: quả đất, mặt trời, mặt trăng, biển cả, hư không, núi Tu-di, Hy-mã-lạp sơn… Còn các giống hữu tình lớn như Ma vương, Đế thích, Đại phạm thiên cũng chỉ có một. Tương tợ thế ấy, giữa thế gian chỉ có một Đức Chánh Đẳng Giác mà thôi”.

Chú thích:

(1): 1.Vườn Lâm-tỳ-ni; 2. Bồ-đề đạo tràng; 3. Lộc Uyển; 4. Câu-thi-na; 5. Thành Ca-tỳ-la-vệ; 6. Thành Vương Xá; 7. Thành Tỳ-xá-ly; 8. Thành Xá-vệ; 9. Tăng-già-thi; 10. Đại học Nalanda.

(2): Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Trường bộ 1, 16. Kinh Đại bát Niết-bàn, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP.Hồ Chí Minh, 1991, tr.643.

(3): Tỷ-kheo Thích Quang Nhuận, Phật học khái lược 2, 16. Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB Tôn Giáo, Hà Nội, 2004, tr.176.

(4): Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Kinh Trường bộ 1, 16. Kinh Đại bát Niết-bàn, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, TP.Hồ Chí Minh, 1991, tr.644.

THÍCH GIÁC MINH HỮU

(Văn Hóa Phật Giáo, số 327)