Mười chánh hạnh đây là mười hạnh chân chánh, hay mười hạnh lành, mà danh từ phổ biến chúng ta vẫn thường nghe đó chính là thập thiện nghiệp (mười nghiệp thiện). Gọi mười nghiệp thiện này là mười chánh hạnh bởi vì đây là mười hành vi tốt đẹp, trong sạch không gây tổn hại cho chúng sanh mà đem lại lợi ích thiết thực trong cuộc sống hiện tại và tương lai.

Mười nghiệp thiện này được nói trong kinh Thập thiện đạo, là một trong những bộ kinh dành cho Phật tử tu tập, đặc biệt là Phật tử tại gia của Phật giáo Bắc truyền.

Thập thiện (dasakusalakarmani) là mười việc thiện được thể hiện qua thân, khẩu, ý.

Thân nghiệp có ba:

Bất sát sinh (panatipata pativirati) không sát sinh.

Bất thâu đạo (adattadanadvirati) tức là không trộm cắp, hay nói chính xác hơn là không nhận đồ vật người không cho.

Bất tà dâm (kāmamithyācārādvirati) không quan hệ bất chính với người.

Khẩu nghiệp có bốn:

Bất vọng ngữ (mrsavādatvirati) nghĩa là không dối gạt người, không nói lời không chân thật, phải nói sự thật.

Bất lưỡng thiệt (paisunyāvirati), không nói lưỡi đôi chiều, trước mặt nói như vậy, sau lưng nói khác.

Bất ác khẩu (pārusyatprativirati), không nói lời hung dữ, văng tục, chửi thề, nói lời độc địa.

Bất ỷ ngữ (sambinnapralāpātprativirati), không dùng lời phù phiếm, nói những chuyện không mang lại lợi ích.

Và ý nghiệp có ba:

Bất tham dục (abhidhyāyāhprativirati): Ý không tham (tham ngũ dục: tài, sắc, danh, lợi, ăn, ngủ).

Bất sân nhuế (vyāpādatprativirati): Ý không sân (sân giận, phẫn nộ, buồn bực, khó chịu, chán nản).

Bất tà kiến (mithyadsti-prativirati): Ý không si mê (si mê là hiểu biết không chân thật, hiểu biết lầm lạc, không tỉnh táo sáng suốt, nghiện ngập, mê ngủ).

Chúng ta thấy mười điều thiện nêu trên chính là nền tảng về hành vi đạo đức của con người và xã hội. Trái lại với mười nghiệp thiện là mười nghiệp ác. Gọi là thiện nếu trong tâm là thiện và phát ra hành vi của thân khẩu ý làm lợi ích cho chúng sanh thì gọi là nghiệp thiện. Còn gọi là nghiệp ác là nơi hành vi của thân khẩu ý làm tổn hại đến lợi ích chúng sanh. Theo kinh Thập thiện nói rằng là thân của Trời Người, Thanh văn, Bồ-tát, Vô thượng Bồ-đề đều y pháp này mà được thành tựu gọi là thiện pháp (1). Để biết hành vi là thiện hay ác còn phải xem kết quả tốt hay xấu ở tương lai mà quyết định.

Như vậy tất cả quả báo của cõi người và trời mà thành tựu thì đều do tu tập mười điều tốt đẹp trên. Người tu thập thiện được sanh về cõi trời dục giới, còn muốn sanh vào cõi trời sắc giới và vô sắc giới thì phải có công phu tu tập tứ thiền và bát định, nhưng đều căn cứ vào mười điều thiện lành này làm căn bản sau đó tu tập giới, định, tuệ đoạn trừ tột cùng mười nghiệp ác, thành tựu mười hạnh lành. Nếu đi sâu vào một tầng công phu nữa, nhờ vào thiền định mà phát trí tuệ, cho đến đoạn trừ vô minh, đánh tan tà kiến, đoạn trừ lậu hoặc, chứng quả bồ-đề. Đó là cứu cánh của thập thiện. Cho nên nói mười thiện nghiệp là căn bản xuất thế của Tam thừa (2).

Người tu thập thiện cốt là để tạo nhân duyên, có đầy đủ phước báo không chỉ cho đời này mà cả đời sau được giàu sang, sung sướng thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống. Cho nên nói người muốn tu tập để được sanh thiên hưởng phước báo thì đây là pháp căn bản không thể bỏ qua.

Mười điều thiện này thuộc về giới cho nên tu tập mười điều thiện này cũng chính là tu tập giới.

Đầu tiên là hành vi của thân gồm có không sát sanh, không trộm cắp và không tà dâm, ba giới này cũng là ba giới nằm trong năm giới cấm. Hành vi của miệng là không nói hai lưỡi, không nói lời phù phiếm, hung ác và không nói dối lừa gạt người; nói thì bốn nhưng chung quy lại thì ở trong giới thứ hai không vọng ngữ thuộc năm giới cấm. Tóm lại thì hành vi của khẩu phải nói lời chân chánh, không nói lời không chân chánh gây tổn hại đến cho chúng sanh. Còn ý thì bao gồm không tham dục, không sân hận và không tà kiến, hiểu theo cách quen thuộc đó chính là không tham, sân và si. Ba thứ này là căn bản của phiền não, vi tế khó đoạn trừ.

Theo như kinh Thập thiện nghiệp, Đức Phật dạy: “Tất cả chúng sanh do tâm tưởng khác nhau, nên tạo nghiệp khác nhau, vì vậy mà có sự luân chuyển trong các cõi và mỗi chúng sanh hình thù lẫn phước báo cũng không giống nhau, cho nên hình sắc chủng loại mỗi loài khác nhau. Tất cả như thế đều do tâm, tạo nghiệp thiện hay bất thiện nơi thân, nơi khẩu, nơi ý mà ra” (3). Tâm ý khởi lên thiện ác cho nên khiến cho hành vi về thân và miệng phát ra là thiện hay ác mà có sự sai khác về hình tướng, chủng loại và phước báo. Tất cả đều do tâm mà ra, tâm làm chủ về hành vi. Cho nên trước hết việc tu tập của chúng ta chính là hướng tâm nghĩ đến quả báo xấu mà chúng sanh đã gây tạo. Như theo kinh Thập thiện thì hiện tại tất cả chúng sanh ở trong biển lớn với hình sắc thô bỉ, hoặc lớn hay nhỏ, đều là do muôn thứ tưởng niệm của tự tâm mà làm các nghiệp bất thiện qua thân, khẩu và ý. Cho nên tùy theo nghiệp mà ai nấy tự thọ quả báo (4). Đó là quả báo do hành vi tạo.

Sau đó nghĩ đến những điều thiện, về công đức mà những việc lành đem lại. Như không sát sinh thì được công đức như “… Rộng thí vô úy cho các chúng sanh. Luôn khởi tâm đại từ đối với chúng sanh. Vĩnh viễn đoạn trừ tất cả tập khí của sân khuể. Thân chẳng mắc bệnh. Thọ mạng lâu dài. Luôn được loài phi nhân hộ vệ. Giấc ngủ an vui và không gặp ác mộng. Diệt trừ oán kết và hận thù sẽ tự giải. Không sợ rơi vào ác đạo. Khi mạng chung sẽ sanh lên trời…” (5). Khi nghĩ đến quả báo xấu mà chúng sanh đã tạo để thấy sợ hãi, về hành động xấu đã làm rồi sanh tâm tàm, quý, nỗ lực từ bỏ việc làm ác; tiếp đó nghĩ tưởng đến quả báo tốt đẹp sẽ được thọ hưởng từ hành vi thiện cảm thấy hoan hỷ, mà mong muốn được làm thiện để được hạnh phúc, an vui.

Một bên là người tu tập thiện nghiệp sẽ đạt được những quả báo tốt là được an vui sung sướng, một bên nghiệp ác đưa đến quả báo xấu bị khổ đau. Chúng ta thường xuyên quán xét biết rõ nghiệp của mình để tự sửa, tránh xa nghiệp ác, thường tạo nghiệp lành để tội lỗi dần dần hết, phước đức trí tuệ càng ngày càng tăng trưởng. Muốn cứu cánh mười thiện nghiệp thì cần xa lìa hẳn mười ác nghiệp. Lìa được một ác nghiệp, là từ bỏ được một phần phiền não.

Như vậy ta thấy được nhân quả thiện ác đều do mình tạo ra, nếu ai muốn biết nhân đời trước mình ra sao thì nhìn lại hoàn cảnh hiện tại của mình đang có thì biết đời trước mình đã tạo nhân lành hay dữ. Đức Phật dạy trong kinh Thập thiện người thấu rõ nhân, tu tập nghiệp lành, tin sâu nhân quả là có chánh kiến cho nên không rơi vào chấp thường và đoạn, như thế mà tu học và khiến cho chúng sanh thấu rõ nhân quả, tu tập nghiệp lành: “Ngươi nên nương nơi chánh kiến bất động, chớ đọa vào trong tà kiến đoạn thường. Đối với các bậc phước điền nên vui vẻ cung kính cúng dường, thì các ngươi cũng được người trời tôn trọng cung kính cúng dường” (6).

Như vậy nhờ quán xét được quả báo của chúng sanh gây tạo mà chúng ta hiểu được lý nhân quả, nhờ vậy mà có chánh kiến trong tu tập, biết đâu là thiện và đâu là ác để tránh xa và đoạn trừ. Người có chánh kiến là không tà kiến lại tin sâu Phật pháp, gọi là chánh tín bất động. Hiểu rằng tất cả hành động tạo ra của ta đều sẽ có kết quả thích đáng. Cho nên thay vì than trời trách đất, bi lụy vì những điều xấu đến với mình trong cuộc sống thì chúng ta phải tự chuyển hóa nội tâm mình bằng cách quán xét lý nhân quả báo ứng, để từ đó nỗ lực tốt hơn trong cuộc sống, cải thiện bản thân cũng như hoàn cảnh của mình, để trở nên một ngày tốt đẹp hơn. Cụ thể hơn như lời Phật dạy chính nỗ lực trong việc tu tập mười hạnh lành, là căn bản của mọi hành vi đạo đức, thể hiện trong cuộc sống đem lại những quả báo tốt đẹp trong cõi nhân, thiên.

Kinh Thập thiện nói “Hành giả tu tập mười điều thiện hồi hướng về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, sau khi thành Phật, mau chứng tất cả Phật pháp, thành tựu thần thông tự tại” (7). Như vậy khi hành giả đã xa lìa mười điều ác nghiệp thành tựu được mười điều thiện, không những đời đời kiếp kiếp được sanh về cõi trời hay cõi người hưởng quả báo tốt đẹp, mà nếu hồi hướng công đức này tu tập Tứ đế chứng quả Thanh văn, hoặc hướng tu tập theo Thập nhị nhân duyên thì chứng quả Thanh văn, hay hướng tu theo tu tập theo Lục độ vạn hạnh, công phu viên mãn thì chứng quả Phật. Cho nên nói thập thiện là căn bản của pháp lành cho người tu học Phật pháp.

Tài liệu tham khảo:

1. Thích Trí Thủ dịch, Kinh Thập thiện nghiệp đạo, http://www. buddhamountain.ca/10ThienNghiepDaoVN.php, 22/8/2019.

2. Thích Hoàn Quan, Kinh Thập thiện – Phật Tổ ngũ kinh, NXB Tôn Giáo, 2004.

Chú thích:

1: Kinh Thập thiện – Phật Tổ ngũ kinh.

2: Kinh Thập thiện nghiệp đạo.

TUỆ THƯỜNG

(Văn Hóa Phật Giáo, số 335)