Thái tử Tất Đạt Đa trên đường đi xuất gia có trao đổi y phục cho một tu sĩ mà truyền thuyết cho rằng đó là trời Đế Thích hiện ra. Trong sáu năm khổ hạnh cho đến khi thành đạo dưới cội cây bồ đề, Ngài vẫn với y phục tương tự của một thầy Bà La Môn cho đến khi thành lập Tăng đoàn, y pháp phục cũng chỉ có một thứ dùng cho việc đi khất thực , ngồi thiền, ngủ ghỉ . . .Cũng theo truyền thuyết lịch sử, một hôm đức Phật và chư Tăng đi ngang một cánh đồng có những thửa ruộng bờ mẫu vuông vắn thật đẹp, đức Phật lấy tay chỉ và nói với ngài Anan: Theo cách thức thửa ruộng này mà chế pháp phục cho chư Tăng. Từ đấy Phật cho phép cắt may thành y và pháp phục của chư Tăng mang tên “Phước điền y” (y ruộng phước).

Y là ca sa hay cà sa, tiếng Phạn gọi là Kasya. Pháp phục của Tỳ kheo có ba loại: Đại y, trung y và tiểu y.

Tiểu y (An đà hội) , sau này Phật giáo phát triển (Bắc tong) gọi là y tiểu hay y ngũ điều.

Trung y (Uất đa la tăng) gọi là y thất.

Đại y (Tăng già lê) gọi là cử điều.

Phật giáo ở Ấn Độ hay Phật giáo Nam truyền, ba y chỉ là một bộ. Y khoác vào bên ngoài gọi là “đại y’, mặc hở vai bên trong là “trung y” và mặc phía dưới như quần là “tiểu y”. Phật giáo Bắc truyền, vì thời tiết khí hậu lạnh nên các vị tu sĩ phải mặc quần áo ấm, pháp phục chỉ mặc dùng cho việc hành lễ .

VHPG 147