Nghiệp là một trong những giáo lý cơ bản của đạo Phật. Theo Phật giáo, nghiệp chính là nhân tố quan trọng mang tính quyết định tạo nên con người và hoàn cảnh xung quanh. Kinh Thập thiện nghiệp đạo, đức Phật dạy tất cả chúng sinh vì tâm tưởng khác nhau nên tạo nghiệp khac nhau, do đó có sự lưu chuyển giữa các cõi (tam giới, lục đạo). Kinh trung A hàm có người hỏi: ‘Do nguyên nhân nào mà trên cõi thế gian có người yểu mạng, có người thọ mạng, có người bệnh hoạn, có người khỏe mạnh, có người xấu xí, có người đẹp đẽ; có người nghèo khổ, có người giàu sang, có người u mê tăm tối, có người thông minh tài trí. . . Nói chung là người trên thế gian có điều kiện bản thân và hoàn cảnh sống bất đồng?’ Đức Phật đã trả lời: “Tất cả chúng sinh đều mang theo cái nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi chúng sinh mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa các chúng sinh” Trong kinh Tăng chi bộ, đức Phật cũng tuyên bố: “Ta là chủ nhân của nghiệp, l2 kẻ thừa tự nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào đã tạo, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”.

Bởi vì chính con người tạo ra nghiệp nên mới nói con người lá chủ nhân của nghiệp. Con người có quyền tự do tạo ra bất cứ nghiệp gì, thiện hay ác, tốt hay xấu, tích cực hay tiêu cực, có lợi hay có hại … và con người sẽ chịu trách nhiệm về những nghiệp mình đã tạo ra, tức ganh chịu phần hậu quả, vì thế nói con người là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là động lực dẫn dắt con người mãi lẩn quẩn trong sinh tử luân hồi; từ nghiệp mà con người sinh ra, vì thế mà nói nghiệp là thai tạng. Nghiệp đi cùng với con người trên lộ trình sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay, nghiệp gắn bó khắng khít với con ngươi từ khi sinh ra cho đến lúc đời sống này chấm dứt và tiếp tục đời sống khác sau khi tái sinh, nghiệp ở bên con người mọi lúc mọi nơi, cho nên nghiệp được xem như quyến thuộc của con người, tức những gì thân thiết nhất, gần gũi nhất đối với con người. Nghiệp cũng chính là điểm tựa, vì từ đó con người an mệnh lập thân, kiến tạo đời sống cho mình.

Sauk hi chứng thiên nhãn minh nơi cội bồ đề, đức Phật thấy rõ vô lượng kiếp quá khứ của chúng sinh với các nghiệp nhân và nghiệp quả, thấy rõ con đường thọ nghiệp của chúng sinh. Kinh Trung bộ, đức Phật đã tường thuật lại như sau: “Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhiên, vượt tri kiến phàm tục. Ta thấy cách chúng hữu tình sinh tử như thế nào, ta thấy rõ cao quý hay hạ liệt, thông minh hay ngu đần, mỗi chúng sinh được tái sinh cõi lành hay cõi dữ tùy theo hạnh nghiệp của mình và ta biết rõ: Những ai đã tạo ác nghiệp về thân, khẩu, ý, sau khi thân hoại mạng chung sẽ tái sinh vào khổ cảnh, vào đọa xứ, địa ngục.Song những ai tạo nghiệp thiện về thân, khẩu, ý sẽ được tái sinh vào cõi lành, lên thiên giới”.

Giáo lý nghiệp đã lý giải rõ nguyên nhân của những hiện tượng sai biệt, bất đồng trong xã hội : Do sự khác biệt giữa cái nghiệp của mỗi chúng sinh nên có trạng thái chênh lệch trong sự tái sinh.

Chính vì hiểu rõ mỗi nghiệp thiện ác, tốt xấu, tiêu cực hay tích cực đều có kết quả tương ứng, từ tuệ giác và kinh nghiệm thực tiễn thân chứng, đức Phật đã đúc kết nên phương châm định hướng cho con người trên bước đường tìm cầu an lạc hạnh phúc: “Không làm các điều ác.Siêng làm các điều lành. Giữ tâm ý trong sạch. Là lời chư Phật dạy” (Kinh Pháp cú, kệ 183)

Giá trị lợi ích lớn nhất của giáo lý nghiệp là giúp cho chúng ta ý thức rõ về trách nhiệm đối với bản thân và xã hội. Thuyết nghiệp cho biết rằng chúng ta là chủ nhân của cuộc đời mình và cũng là chủ nhân của xã hội. Trong một xã hội, mỗi cá nhân có nghiệp riêng của mình (biệt nghiệp) tác động đến cộng đồng xã hội (cộng nghiệ) và ngược lại cộng đồng , xã hội cũng có những tác động ảnh hưởng đến mỗi thành phần cá nhân.

Thuyết nghiệp giúp cho chúng ta tự tin vào chính mình để không đánh mất vai trò chủ nhân của đời sống, không lệ thuộc tư tưởng thần quyền, tư tưởng nương nhờ, trông cậy vào các thế lực siêu nhiên. Không ai có quyền định đoạt số phạn , vận mệnh của chúng ta ngoại trừ chính chúng ta. Các thế lực siêu nhiên như ông trời (thượng đế) và các thần linh (theo tín ngưỡng dân gian) cũng không có khả năng làm thay đổi nghiệp quả của chúng ta, không thể ban phước giáng họa cho chúng ta. Chỉ chúng ta làm cho mình an vui hạnh phúc bằng cách chuyển hóa nội tâm, chuyển hóa nghiệp thông qua các pháp môn tu tập và đời sống hướng thiện.

Thuyết nghiệp cũng dạy chúng ta sống không ỷ lại, bởi vì dù mang thân phận gì, ở địa vị nào, có quyền lực gì đi nữa cũng phải chịu trách nhiệm về những hành động tạo tác của mình, không ai có thể né tránh hay trốn chạy. Là vua quan hay kẻ thứ dân, là người giàu sang hay bần cùng khốn khổ cũng đều bình đẳng trước sự chi phối công bằng của nghiệp.

Bằng tuệ giác, các bậc Thánh giác ngộ thấy rằng dù trải qua trăm nghìn kiếp, nghiệp đã tạo cũng không mất đi, đến lúc gặp điều kiện nhân duyên thích hợp thì thọ nhận quả báo và một khi quả báo đến rồi thì “Không trên trời, giữa biển. Không lánh vào động núi. Không chỗ nào trên đời. Trốn được quả ác nghiệp” (Kinh Pháp cú, kệ 127)

Hiểu về nghiệp, khi gặp cảnh ngộ không may, thay vì đổ lỗi cho người khác, đổ lỗi cho điều kiện, hoàn cảnh, đổ lỗi cho số phận, vận mệnh, đổ lỗi cho thượng đế và thần linh thì con người nhìn nhận rõ trách nhiệm ở nơi chính bản thân mình vả tìm cách khắc phục, sửa đổi.

Trong cuộc sống, chúng ta cũng không rơi vào tình trạng tuyệt vọng và bế tắc, bởi chúng ta hiểu rằng chính những nghiệp nhân không tốt trong quá khứ đã tạo nên con người và hoàn cảnh hiện tại và hoàn cảnh này có thể được cải thiện bởi những nghiệp nhân tốt trong hiện tại. những gì làm trong hiện tại không phải là vô nghĩa, bởi nó có tác dụng tích cực trong việc cải tạo, xây dựng con người và đời sống mới. Thuyết nghiệp tạo niềm tin và hy vọng cho chúng ta về một cuộc sống tốt đẹp ở tương lai và sự cải thiện những gì bất như ý trong hiện tại.

PHAN MINH ĐỨC

(GN 770)