Trong tôn giáo, niềm tin được xem là cửa ngõ đầu tiên để đến với đạo, một hiện tượng tâm lý xã hội đặc biệt, một phẩm chất của thế giới quan, ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống và các mối quan hệ trong xã hội của người tín đồ. Tuy nhiên, con đường hình thành niềm tin không phải tôn giáo nào cũng giống nhau. Có tôn giáo xây dựng niềm tin trên những tín điều, mặc khải và bắt buộc tín đồ phải phục tùng, tin theo, không được nghi ngờ, niềm tin này được xem là thiêng liêng, là biểu hiện của khát vọng hướng thượng, vượt trên mọi giới hạn của sự hiểu biết. Ngoài ra có những tôn giáo lại có khuynh hướng xây dựng niềm tin dựa trên sự hiểu biết, trải nghiệm và học hỏi. Niềm tin trong Phật giáo là một điển hình của khuynh hướng này.

Phật giáo được khai sinh từ chiếc nôi văn hóa Ấn Độ, trải qua hơn 25 thế kỷ tồn tại và phát triển đã trở thành tôn giáo của nhân loại, có mặt ở hầu hết các châu lục trên thế giới. Sự hiện diện của Phật giáo ở các quốc gia với tư cách là quốc giáo hay đơn thuần chỉ nắm giữ vai trò văn hóa đạo đức cũng đã phản ánh ý nghĩa niềm tin Tam bảo cao độ trong đời sống nhân dân. Từ một Phật giáo Nguyên thủy trên tiến trình phát triển để dung hợp với văn hóa dân gian bản địa tạo thành các hình thức tôn thờ, nghi lễ, cúng bái như một tôn giáo hiện nay khiến cho nhiều người hiểu lầm đến mức đánh đồng niềm tin trong đạo Phật với sự sùng tín tôn giáo. Nghĩ rằng niềm tin trong Phật giáo cũng là sùng tín nên họ cho rằng Phật giáo là mê tín, nô lệ thần quyền, nhu nhược, yếu đuối . . . Vậy, niềm tin trong đạo Phật là gì? Có phải là sùng tín? Và vai trò của nó trong tiến trình tu học Phật pháp?

Hòa thượng Khế Chơn nhận địng: “Niềm tin trong Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong cả Phật giáo Nguyên thuỷ và Phật giáo Phát triển”

Tín đồ Phật giáo muốn tu học và thành tựu theo giáo lý Đức Phật nhằm xây dựng cuộc sống an lạc, hạnh phúc, vững bền cho bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội, trước hêt phải có niềm tin vào Tam bảo. Đó là tin vào Đức Phật (Phật), tin vào những lời dạy của Ngài (Pháp) và tin vào những đệ tử thánh thiện của Ngài (Tăng). Niềm tin Tam bảo được xem là tín căn, một trong năm căn lành để thực hành đường lối tu tập hướng đến mục tiêu giác ngộ gọi là ngũ căn (niềm tin, tinh tấn, ghi nhớ, thiền định, trí tuê) và là một trong bảy tài sản của bậc Thánh: “Niềm tin, giới hạnh, hổ mình, thẹn với người, học rộng, bố thí, trí huệ: đó là bảy thánh tài”. Có niềm tin nơi Đức Phật, nơi giáo lý, nơi Tăng đoàn thì mới quy ngưỡng, tin nhận và thực hành theo giáo lý ấy.

Tuy nhiên, niềm tin ở đây được hiểu theo ý nghĩa sự tin tưởng chứ không phải theo nghĩa sùng tín như trong một số tôn giáo thần quyền. Bởi vì không phải mọi niềm tin đều đưa đến giác ngộ. Cho nên, có niềm tin đã là quan trọng song không chỉ dừng lại ở niềm tin, tín đồ còn phải học hiểu giáo lý để cái thấy, cái biết, cái tin đó dược tư duy, gạn lọc kỹ càng, thấu đáo, đúng lẽ thật thì mới đúng là niềm tin của đạo Phật. Khi niềm tin được xây dựng theo cách thức như trên thì lòng tin đạt đến vững chắc, không lay chuyển, đó gọi là chánh tín. Ngược lại, nếu niềm tin được xây dựng trên cơ sở nhận thức cảm tính, không xuất phát từ nhận thức lý tính thì con người dễ dàng bị lôi cuốn, tha hóa, chạy theo tà đạo, mất hết trí thông minh, rơi vào mê tín dị đoan, không phải là niềm tin chân chính.

Trong đạo Phật, tín đồ được khuyên không nên vội vàng tin theo một điều gì mình thấy được, nghe được mà phải tìm hiểu và xem xét kỹ lưỡng để chắc chắn hiểu về điều đó thì mới quyết định tin hay không. Nghĩa là không tin một cách mù quáng mà phải kiểm chứng mọi giáo lý qua sự tìm hiểu và áp dụng thực tế chứ không phải tin điều gì chỉ đon giản là ai đó nói. Chính Đức Phật đã dạy cho dân chúng Kalama khi họ tỏ ra hoang mang, không biết tin vào đâu trong kinh Tăng Chi; ‘Này các Kalama, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình, chớ có tin vì đúng theo một lập trường, chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện, chớ có tin vì phù hợp với định kiến, chớ có tin vì xuất phát từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa môn là bậc đạo sư của mình. Nhưng này các Kalama, khi nào tự mình biết rõ như sau: Các pháp này là thiện, các pháp này là không có tội, các pháp này được người có trí tán thán, các pháp này nếu được thực hiện, được chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc; thời này các Kalama, hãy chứng đạt, an trú và nỗ lực thực hành”

Qua đoạn kinh văn trên, chúng ta thấy Đức Phật dạy đệ tử Ngài trước khi tin vào điều gì phải xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng, cần nhận ra tính chất của nó là thiện hay ác; chỉ nên tin vào những gì biết chắc đem lại an lạc, hạnh phúc cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai. Đó chính là cách thức xây dựng niềm tin chân chính, sáng suốt, hợp với giáo lý của người tín đồ Phật giáo

Có niềm tin vào Tam bảo không phải để tôn thờ sùng kính, lễ lạy, cầu đảo, van xin, nương tựa thần quyền mà để thực hành tu tập theo lời Phật dạy nhằm đạt được giác ngộ, an lạc. Nói cách khác, dựa trên cơ sở niềm tin Tam bảo, người Phật tử còn phải khởi niềm tin vào khả năng giác ngộ thành Phật của chính bản thân nếu mình nỗ lực tu hành đúng phương pháp (lòng tự tin). Pháp cú số 156, Phật dạy: “Chính tự mình làm chỗ nương tựa cho mình chứ người khác làm sao nương tựa được? Tự mình khéo tu tập mới đạt đến chỗ nương tựa nhiệm mầu (Niết bàn)

Qua lời dạy trên, chúng ta hiểu tín đồ có niềm tin và nương tựa vào Phật, Pháp, Tăng không có nghĩa là phát lời cầu nguyện hay giao phó thân mạng để được Tam bảo lo cho giải thoát. Phật giáo chủ trương mỗi cá nhân phải tự lực lo giải thoát cho mình, niềm tin Tam bảo chỉ giúp cá nhân nỗ lực tu tập chứ không giác ngộ thay cho cá nhân. Pháp cú số 261, Phật dạy: “Các con hãy nỗ lực lên, Như Lai chỉ là người thầy dạy cho con đường giác ngộ”

Thật quá rõ rang, Đức Phật là bậc đạo sư chỉ cho phương pháp tu hành đúng đắn để được giải thoát. Còn muốn đến cảnh giới giải thoát an vui tự tại thì tự mỗi người phải gắng sức thực hành đúng lời Phật dạy. Bởi sự giác ngộ là tự mình giác ngộ chứ không ai có thể giác ngộ thay cho.

Tóm lại, niềm tin trong đạo Phật là định hướng giá trị vững chắc vào Tam bảo và vào khả năng giác ngộ của chính mình. Cả hai phần của niềm tin này đều phải được xây dựng trên cơ sở chánh tín.

Mục đích tối hậu của đạo Phật là giải thoát, là giác ngộ. Niềm tin chỉ là phương tiện, là điều kiện căn bản cho sự sinh khởi và vận hành của tiến trình thực hành giáo lý đạt đến trí tuệ giác ngộ gồm nhiều bước nỗ lực. Như vậy, nếu người tín đồ chỉ dừng lại ở niềm tin không thôi thì không đủ để thực nghiệm giác ngộ hay chứng đắc Niết bàn. Nói cách khác, niềm tin chỉ là bước sơ khởi trong tiến trình tu tập đầy công phu mà mỗi người Phật tử phải kinh qua.

THÍCH KHÔNG TÚ

(VHPG 248)